Nguồn: The Correctio – or how the West was won by the Catholic Church by Cain O’Mahoney, 20 March 2013.

Việc Giáo hoàng Benedict từ chức và tranh cãi trên toàn cầu chung quanh việc lựa chọn Giáo hoàng Francis đã phơi bày sự kìm kẹp mà Giáo hội Kitô vẫn chế ngự trong tâm trí của quần chúng ở nhiều nơi trên thế giới. Cain O’Mahoney xem xét nguồn gốc của Kitô giáo trong Thời kỳ Trung cổ và bằng cách nào Nhà thờ ‘Phổ quát’ một cách vô thức đã đóng vai trò là ‘nhân tố chủ quan’ trong quá trình chuyển tiếp từ xã hội nô lệ ở Đế chế La Mã sang chế độ phong kiến ở Tây Âu.

Constantine đã mang Kitô giáo đến Đế chế La Mã. Đầu thế kỷ thứ 4, ông ta sa lầy vào một trong những cuộc nội chiến cay đắng của Rome khiến nó tan vỡ và sụp đổ. Kẻ ngồi trên ngai vàng bất chính này cho rằng ông ta đã nhìn thấy hình ảnh Chữ thập rực cháy trên bầu trời vào cái đêm thắng trận đã giúp đưa ông ta lên ngai vàng. Chính lòng nhiệt thành mới ấy khiến ông ra lệnh cho quân đội vẽ chữ thập lên những tấm khiên trước trận đánh.

Có lẽ đúng hơn là ông ta đã cải đạo ở một sự kiện đã diễn ra 15 năm trước. Năm 287 SCN, trong quân đội La Mã đã xảy ra nhiều cuộc binh biến lớn. Tướng Ai Cập, Maurice, và quân đoàn Theban mà ông ta chỉ huy đều cải đạo sang Kitô giáo. Maurice đã từ chối lệnh giết cả một ngôi làng của những tín đồ Kitô giáo. Thánh Maurice bị hành hình và toàn bộ Quân đoàn bị ‘thập phân’ (tức là cứ ngẫu nhiên một trong số 10 binh lính bị giết) dưới tay các Tướng lĩnh La Mã để trả thù.

Sự kiện lịch sử khiêm tốn ấy cho thấy bằng cách nào tư tưởng quân bình của Kitô giáo sơ kỳ đã nhanh chóng lan rộng vào quần chúng bị bần cùng hóa. ‘Nazareens’ – một bộ lạc dựa trên phong trào tôn giáo của người Do thái xuất phát từ Nazareth ban đầu được dẫn dắt bởi Gioan Baotixita (John the Baptist) và những người bà con như Jesus, John, James, v.v.. – tập trung chủ yếu vào ‘cải đạo’ cho chính cộng đồng Do thái hơn là cho những người khác. Chính Saul, cùng với việc cải đạo của ông ta trên đường tới Damascus, đã đưa nó ra bên ngoài cộng đồng Do thái để rồi chứng kiến nó nhanh chóng lan tỏa khắp Armenia rồi từ đó xâm nhập vào Đế chế La Mã đang mục nát, bao gồm cả những cấp bậc thấp trong các Quân đoàn La Mã, người ta gọi họ là những proletari [vô sản]. Việc Constantine ‘cải đạo’ không liên quan gì nhiều tới sự hiện hình của lửa, mà liên quan nhiều đến mục đích gây bất ổn cho các Quân đoàn của đối thủ của ông ta: do vậy khi ra lệnh cho binh lính của mình vẽ hình chữ thập lên khiên, khiến binh lính của đối thủ – khả năng lớn bản thân họ cũng là những tín đồ Kitô giáo – cảm thấy họ đang tấn công những người cùng niềm tin và khiến họ nhụt chí chiến đấu.

Sự ‘cải đạo’ đột ngột ấy không phải là sự phi thường của các hoàng đế La Mã như Constantine. Tôn giáo bao giờ cũng là vấn đề thực dụng đối với quý tộc La Mã, một phương thức để giữ vững sự ủng hộ của quần chúng khi đế chế của họ bành trướng. Như nhà sử học Adrian Goldsworthy chỉ ra rằng:

“Người La Mã đã có truyền thống sẵn lòng đón nhận các tôn giáo lạ vào thành phố của họ, hấp thu chúng vào tôn giáo Nhà nước” (Carthage sụp đổ1)

Rõ ràng, vào thời gian Constantine cai trị, tôn giáo mới từ phía Đông đã ăn sâu vào cả binh lính, thợ thủ công và cả nông dân. Vì vậy Kitô giáo đã được kẻ cai trị mới đón nhận.

Constantine trao cho Rome một vận may mới và bảo vệ cánh phía đông của nó – nơi là căn cứ của những kẻ thù truyền thống – bằng cách hợp nhất người Hy Lạp với người ‘La Mã’ dưới khẩu hiệu ‘Một gương mặt, một chủng tộc’ và tạo ra đế chế Byzantine với thành Constantinople (nay là Istanbul) có tường bao nguy nga làm trung tâm của đế chế.

Giữa lúc ngôi sao Byzantine nổi lên, Rome sa sút. Khi chế độ quý tộc La Mã một lần nữa bị chia rẽ và tách ra thành những kẻ thù huyết chiến, các Rợ đã mặc sức phá hủy nước Ý. Vào thế kỷ thứ 6, một đội quân Byzantine buộc phải giải phóng Rome khỏi những kẻ xâm lược phương bắc. Nhưng nó cũng đồng thời chiếm đoạt những gì thuộc về đảng trẻ trong liên minh La Mã-Byzantine. Toàn quyền Byzantine đã được thiết lập ở Ravenna để trông nom đám quý tộc La Mã hay cãi vã nhau.

Ảnh hưởng của Byzantine tới Rome bị suy yếu sau khi những người Rợ chia cắt Constantinople khỏi Rome khi họ xâm lược Hy Lạp vào thế kỷ thứ 7, trong lúc đó bọn cướp biển Bắc Phi kiểm soát tất cả tuyến đường biển ở Địa Trung Hải. Chính sự cô lập gia tăng này làm mầm mống của chủ nghĩa dân tộc La Mã, ở hình thức tôn giáo, bắt đầu phát triển. Rome lúc nào cũng nhức nhối trước sự thống trị của Byzantine, và giờ đây tôn giáo Nhà nước trở thành chiến trường. Các hoàng đế Byzantine sau này đã kiểm soát tôn giáo Nhà nước, và thông qua nó kiểm soát xã hội nói chung, bằng việc chỉ định Giám mục mà họ ủng hộ làm người đứng đầu Nhà thờ – hoặc ‘Pappas’, tiếng Hy Lạp có nghĩa là cha – tại tất cả các cơ sở quyền lực của đế chế, dù đó là ở Constantinople, ở Antioch, ở Alexandria và vân vân, và dĩ nhiên là cả ở Rome nữa.

Rome tranh luận rằng chỉ có một người đứng đầu nhà thờ, một Pappas, và đó phải là Giám mục Rome do họ lựa chọn. Sự biện hộ có tính thần luận cho rằng Giám mục Rome đầu tiên là Thánh Peter, người đã được phong thánh vào năm 64 SCN. Họ chỉ ra rằng, Jesus trên cây thánh giá đã trao ‘Chìa khóa mở Thiên đường’ – nghĩa là trao vai trò lãnh đạo phong trào – cho Peter. Do vậy bất cứ ai là Giám mục Rome mặc nhiên [ipso facto] là người kế cận thực sự của Thánh Peter, và do đó là người đứng đầu Nhà thờ. Chỉ dẫn đối với giới chức là phải rời Constantinople để trở về Rome.

Tính cấp bách của việc Rome cần phải giành giật quyền kiểm soát khỏi Constantinople nằm ở sự bùng phát của ‘chủ nghĩa thiên niên kỷ’, một niềm tin nghiêm túc cho rằng tận thế đã kề cận. Tồn tại một tranh luận thần học tiếp diễn chung quanh nội dung Kinh thánh tuyên bố rằng ‘vương quốc của thiên đường trên trái đất’ sẽ kết thúc sau một ngàn năm. Khi năm 1000 SCN nhanh chóng tới gần, lời tiên tri này hẳn như rất có thật khi mà một Rome từng hùng mạnh đã tan vỡ rồi sụp đổ chung quanh họ.

Rome nhìn thấy những lực lượng mới. Những người kế cận tự phong để thế chỗ Thánh Peter đã xây dựng một chiến lược mới mà họ gọi là Correctio [sửa chữa, cải cách] – nghĩa là ‘lập lại trật tự cho sự hỗn loạn’. Khắp nơi chung quanh họ, những Rợ tộc đã kết hợp với những chủng tộc theo khu vực địa lý, cùng những cấu trúc quyền lực và trật tự chặt chẽ, được kế thừa từ Đế chế La Mã cũ: Tây Ban Nha, Gaul, Anh, Saxon, Francia, Burgundy, Lombardy, Wends, Poles, Slavs, Bohemia và Bavaria. Sức mạnh đang tăng lên của họ củng cố sự suy yếu của Rome. Lý do chính là nô lệ ngày càng không thể cung cấp sức sản xuất cho xã hội được nữa. Để nô dịch người khác thì phải nắm quyền thống trị – nhưng các Rợ, cùng với kiến thức và kỹ năng do Đế chế La Mã ban tặng họ, đã phản công. Rome đã gieo những hạt giống cho sự hủy diệt của chính bản thân mình. Bởi vậy, những vương quốc ngoại đạo mới phải được ‘đưa đến với Chúa’ – và dĩ nhiên dưới sự lãnh đạo của La Mã. Francia là ứng viên cải đạo thành công đầu tiên.

Khi người Lombard một lần nữa xâm lược Italy, Rome – tuyên bố thẩm quyền mới của nó từ Thánh Peter, với tư cách là người đứng đầu Nhà thờ – kêu gọi những người Frank vừa cải đạo phải bảo vệ Rome. Họ đã đáp lại lời kêu gọi ấy, và Rome đã có vị hoàng đế ‘Man di’ đầu tiên là Charlemagne.

Dựa vào sức mạnh quân sự của người Frank (chứ không phải người La Mã) Charlemagne gây dựng một đế chế mới để đi đàn áp những vùng đất “không có tôn giáo, không có Vua”. Nhưng đế chế mới hầu như dựa trên mô hình La Mã cũ, tức là dựa trên lao động nô lệ do các vùng đất bị đánh bại cung cấp, cùng với chiến lợi phẩm đổ trở về Rome.

Sau khi Charlemagne chết, chủ nghĩa bè phái và những cuộc nội chiến từng gây bao rối ren cho thời La Mã đã quay trở lại. Để khôi phục trật tự, Giáo hoàng chuyển sang một lực lượng đang lên ở lục địa, đó là người Saxon. Người Frank đã chinh phục và cải đạo người Saxon và biến họ thành vệ tinh ở phía đông – nhưng chính ‘liên minh’ La Mã-Byzantine thêm một lần nữa, cùng với người Saxon trở thành đối tác thống trị. Sức mạnh của họ dựa trên một loại vũ khí mới – loricati, tức là “Người Sắt”.

Châu Âu từng bị rối loạn bởi những cuộc xâm lược từ phía Đông bởi những bộ lạc du cư có kỹ năng di chuyển mau lẹ, những kẻ vừa cưỡi ngựa vừa bắn cung có khả năng cắt đứt chiến thuật bộ binh tĩnh tại đã thống trị phương pháp quân sự ở châu Âu, dựa trên kiểu mẫu La Mã. Người Saxon phát triển kị binh mặc áo giáp dệt bằng những vòng kim loại xâu vào nhau để có thể tập tan những kị sĩ phương Đông được bọc giáp sơ sài, và tả xung hữu đột vào bộ binh. Phải cho đến khi người Giéc-manh phát minh ra Nỏ và người Welsh phát minh ra Cung tên 200 năm sau, đinh móc và mũi tên của họ có thể đâm xuyên qua lớp giáp sắt, người sắt với giáp lưới sắt từ đầu đến chân của thời trung cổ là tương đương với một Sư đoàn Thiết giáp bất khả chiến bại.

Năm 926 SCN, Rome có một quán quân mới người Saxon là Otto Đệ nhất, hoặc có thể nói là một phe phái do Giáo hoàng lựa chọn ra. Thời điểm đó có hai hoặc ba Giáo hoàng, đại diện cho những phe khác nhau trong giới quý tộc La Mã, những kẻ thù hận nhau và đã đổ máu trong cuộc chiến giành quyền lực.

Giáo hoàng ‘chính thức’, John XII 16 tuổi được phe chi phối dựng lên, mặc dù ông ta là kẻ vô cùng trác táng. Ông ta thậm chí còn cải tạo một cánh của Lateran thành một nhà thổ. Otto I dung túng một kẻ giả tạo Giáo hoàng trong khi ông ta củng cố địa vị hoàng đế rồi sắp đặt cái chết của John một năm sau đó – bằng cách bày ra một vụ gian díu ông ta đảm bảo chắc chắn cho người chồng giận dữ bắt gặp quả tang John XII đang ở trên giường với vợ anh ta, rồi Giáo hoàng qua đời sau đó.

Sự kiện này chứng tỏ rằng mặc dù họ mưu mô và học đòi, Giáo hoàng La Mã vẫn còn phải phục tùng Hoàng đế, cho dù Hoàng đế ấy là người La Mã, người Pháp hay người Đức.

Sau khi Otto I chết, Đế chế Giéch-manh Thần thánh đi theo con đường của Charlemange và Ceasar trước đó. Đây rõ ràng thời điểm để nô lệ với vai trò là phương thức sản xuất ‘rời bỏ vũ đài chính trị một cách dễ dàng’. Một khoảng trống đã xuất hiện.

Chính Giáo hoàng Gregory VII đã đi một bước cách mạng. Đế chế từng hùng mạnh dưới thời Otto I rơi vào cuộc nội chiến, các bá tước và các hoàng tử tranh giành nhau ngai vàng. Giáo hoàng Gregory can thiệp và rút phép thông công Henry IV, một người Saxon đòi có được ngai vàng. Địa ngục chính là thực tại của xã hội trung cổ sơ kỳ, và sự rút phép thông công ấy là một sự đe dọa kinh hoàng. Nói đúng hơn, điều đó giống như một Bố già Mafia ra lệnh cho ai đó phải chết. Henry bất hạnh có thể đã bị ám sát nhưng vô tội. Ngay cả với sự cân bằng lực lượng giữa các phe phái, Giáo hoàng nhận ra giờ đây họ có thể là những người tạo dựng ra vua, thay vì phải phục tùng bất cứ một Hoàng đế nào. Các nhà sử học gọi sự đoạn tuyệt với quyền lực của các Hoàng đế là ‘Cuộc cách mạng giáo hội’. Như nhà sử học Tom Holland nhận xét:

“Ngày nay Gregory có thể không nổi tiếng như một Luther, Lenin, Mao – nhưng điều đó không phản chiếu thất bại mà lại phản chiếu quy mô thành công của ông ta.” (Thiên niên kỷ)

Nhưng giờ đây chiến lược Correctio phải đối mặt với một thách thức mới. Nhà thờ phải đương đầu với một kiểu xã hội mới đang bắt đầu hình thành ở miền nam nước Pháp. Quý tộc ở Tây Âu đã đạt được sự cân bằng nhất định và không thể gây chiến tổng lực với nhau mà không gây ra tổn thất nặng nề cho chính bản thân họ (bằng chứng cho điều này là 200 năm sau suốt thời kỳ ‘Chiến tranh 100 năm’ khi Anh và Pháp chiến đấu trong một cuộc chiến kéo dài 113 năm). Một thời kỳ trung cổ tương đương với kỷ nguyên hạt nhân Đảm bảo Hủy diệt Lẫn nhau. Đã qua rồi những thời kỳ mà những đội quân La Mã khổng lồ có khả năng thôn tính toàn bộ lục địa. Nô lệ ở quy mô lớn, những kho báu cướp bóc được và những thuộc địa không còn mang lại phương thức sản xuất. Trong xã hội tĩnh tại mới, của cải được chuyển sang sở hữu đất đai chung quanh, cái giờ đây đem lại tất cả những phương tiện sinh sống cho xã hội. Nhưng không có nguồn cung nô lệ liên tục, ai sẽ cung cấp lao động để canh tác trên đất đai ấy? Bạn có thể ‘sở hữu’ mọi đất đai mà bạn muốn, nhưng không có lao động trồng trọt trên đó, thì ‘lợi nhuận’ ở đâu ra?

Khi thiên niên kỷ đầu tiên tới gần, kiến trúc sư của xã hội mới là Fulk Đen, một hậu duệ của những người lang thang kiếm ăn trong rừng, thông qua gia tộc ông tìm được một loạt những cuộc hôn nhân tốt, lúc này trở thành là Bá tước xứ Anjou. Giải pháp của ông ta là lựa chọn kỹ lưỡng bọn du côn địa phương cứng đầu nhất và huấn luyện chúng trong những trận chiến dùng áo giáp sắt, để trở thành thương hiệu cá nhân của ông ta cho bọn người sắt hay ‘cnights’ như người Anh gọi họ như vậy (vậy nên, loạt phim hài truyền hình Monty Python và Chén thánh mới có câu ‘Các hiệp sĩ trở thành những người sắt’… [nguyên văn: ‘The Knights that go cnight’]). Họ có thể lựa chọn kỹ lưỡng điểm cao nhất trong khu vực rồi xây một lâu đài nhỏ [Castella] hoặc một lâu đài lớn [Castle] trên đó. Nó được thiết kế để hăm dọa chứ không để che chở. Nó đủ lớn để cung cấp chỗ ở cho đội quân của ông ta và không cho phép người dân địa phương được trú thân khi họ bị đe dọa giống như các thành phố có tường bao trước đây đã từng làm.

Sau đó Fulk tuyên bố tất cả đất đai chung quanh hắn là của hắn và rằng nông dân địa phương giờ đây hoặc sẽ phục vụ hắn hoặc sẽ trả lời những ‘người sắt’ của hắn. Nhà sử học Tom Holland mô tả số phận của những người nông dân:

“Thay vì bị bỏ mặc để sinh sống như họ đã sinh sống từ thời La Mã, trên những nông trại rải rác, hoặc quây quần quanh những trang viên, hoặc di cư hết năm này qua năm khác từ túp lều này sang túp lều khác, những người nông dân ngày càng thấy bản thân họ đều bị lùa vào một nơi thực ra là chỗ quây cừu người: một ‘ngôi làng’…Tất cả họ giờ đây đều không tự do: họ là những chiến lợi phẩm sống, những chiến lợi phẩm của bạo lực và tội ác.” (Thiên niên kỷ)

Nghệ thuật Castellan [kẻ cai quản Lâu đài] nhanh chóng lan rộng khi các Bá tước và các Routier (các nam tước ăn cướp) đi theo sự dẫn dắt của Fulk. Đó là một phiên bản địa phương hóa của chế độ nô lệ.

Các Lâu đài nhanh chóng xuất hiện dọc thung lũng Loira. Nhưng hệ thống này không thể duy trì được. Người La Mã xem chúng như một mối đe dọa tới kế hoạch vĩ đại nhằm ‘thống nhất các Vương quốc Kitô giáo’, phải lệ thuộc vào Rome, thì lại bị thay thế bởi hàng nghìn những thái ấp manh mún.

Hiện tượng này làm đứt gẫy nền sản xuất và cung ứng thông thường. Các thái ấp nhỏ có thể sản xuất chỉ đủ cho bản thân họ; không có động lực sản xuất ra thặng dư cần thiết cho thương mại mà từ đó có thể xây dựng nên những nhà nước dân tộc. Sự chắp vá không thống nhất này cũng không cung cấp được những đội quân lớn cần thiết để tiếp nối chế độ nô lệ. Cần ép buộc các Castellan phải trở lại lệ thuộc vào một vị vua, dựa trên đó nhà nước dân tộc (và tôn giáo) mới có thể hình thành được.

Thêm nữa, đông đảo nông dân bị đối xử một cách tàn bạo – những người có khả năng hơn di dời đến những thị trấn và thành phố đang phát triển. ‘Chủ nghĩa ăn xổi’ của những Castellan, vốn chỉ quan tâm đến của cải và sự tự mãn trước mắt, chẳng bao lâu nữa sẽ gây ra hàng loạt những cuộc nổi dậy cùng với sự hỗn loạn, Nhà thờ đã thấy trước điều đó.

Như Karl Marx sau này giải thích:

“Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội sẽ mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có…Từ chỗ là những hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu một thời đại của một cuộc cách mạng xã hội”2

Khi Thiên niên kỷ đầu tiến đến gần, Nhà thờ buộc phải can thiệp để thực hiện thêm một Correctio nữa và kéo kế hoạch vĩ đại của họ ra khỏi địa ngục. Khi ‘Chủ nghĩa Fulk’ bắt đầu lan rộng như vi-rút từ vùng Loire, các Giám mục được phái đi khắp nước Pháp để tổ chức các ‘Hội đồng hòa bình’ – thực ra đó là những cuộc mít tinh quy mô lớn với nông dân. Nông dân tham gia lên tới hàng ngàn người, như Tom Holland viết, “…để tạo ra vòng bảo vệ cuối cùng cho sự tự do đang mất đi của họ”.

Sự can thiệp của nhà thờ đã bẻ gẫy quyền lực của các Castellan. Nhà thờ phát động chiến dịch ‘Hòa bình của Chúa’ khắp nước Pháp – được tiến hành theo những đội quân chính quy, có hệ thống, từ thái ấp này đến thái ấp khác. Các Giám mục có thể triệu tập các Castellan địa phương cùng đám tùy tùng hung dữ của họ ra mặt trận; những Castellan kiêu mạn, tự tin về sự dũng mãnh về thể chất của mình khi đối chọi với cái mà họ nghĩ có thể chỉ là một vài tay cha sở, thay vào đó họ thất kinh bởi những gì chào đón mình.

Đối mặt với họ ở sự bày binh bố trận có thể là các Giám mục và thày tu với y phục ấn tượng. Lấp lánh dưới ánh mặt trời cũng có thể là những dãy di tích Kitô giáo – những bộ xương và tạo tác của các Thánh và của những kẻ tử vì đạo, nay được bao bọc trong những tượng vàng và xếp thành hàng như những binh lính. Và đằng sau họ là một đám đông những người nông dân đang sục sôi trong giận dữ.

Các Castellan không có nhiều lựa chọn. Holland nói tiếp:

“Các Giám mục quá đỗi bất khả xâm phạm, và nông dân thì quá đông, chẳng dễ gì mà chà đạp họ”

Thất bại, các Castellan tuyên thệ với Nhà thờ và nhà Vua nhằm thỏa thuận một cương lĩnh chung về một trật tự và luật pháp tối thiểu mà ít ra cũng để cho những nông nô mới một vài sự che chở, và một vài quyền ruộng đất để tự sản xuất lương thực. Đúng, họ đã trở thành nông nô gắn chặt và buộc phải lao động trên ruộng đất của Lãnh chúa địa phương, nhưng đổi lại họ nay có thể nhận được sự che chở, ‘công lý’ (phần nào), và quan trọng hơn hết là quyền khai thác những cánh đồng nhất định cho riêng họ. Đối với nông dân, sự trì hoãn mà chiến dịch ‘Hòa bình của Chúa’ đem lại đã giúp Nhà thờ chinh phục lòng mộ đạo của họ.

Nhà thờ một cách vô thức đã đóng vai trò là nhân tố chủ quan đảm bảo cho sự chuyển tiếp từ chế độ nô lệ sang chế độ phong kiến, và cho sự tạo dựng ban đầu của các nhà nước dân tộc. Đó không phải là một Đế chế La Mã nữa, nhưng chí ít thì Rome nay đã có thể ra lệnh và điều khiển các vị vua Kitô hữu phải tuân theo thiết kế của họ. Họ đã thành công khi cố kết nền móng cho một trật tự Phong kiến mới và cho sự cáo chung của xã hội nô lệ.

Dĩ nhiên không phải tất cả những người đứng đầu nhà thờ đều thần thánh như vậy. Bằng chứng về sự tham nhũng, sự suy đồi và trụy lạc có thể cởi trói cơn thịnh nộ của trật tự bên dưới. Năm 1057, người Milan bạo loạn chống lại sự giàu có công khai của Tổng giám mục Milan cùng vợ của ông ta. Rome nhanh chóng phản ứng bằng cách tung ra một chế độ khắc khổ mới cho lính bộ binh, bao gồm cả việc không lập gia đình cho tất cả các đại diện từ Linh mục trở lên. Đó là một sửa chữa nhanh về chính trị nhằm xoa dịu đám đông Milan mà suốt từ đó họ đã vướng mắc vào.

Một trật tự mới giờ đây được xuất khẩu ra phần còn lại của thế giới đã biết, đó là ‘quá trình toàn cầu hóa’ đầu tiên – một tôn giáo ‘Kath’houlou’ (tiếng Hy Lạp nghĩa là ‘’vạn năng"); một hệ thống giao tiếp chung (tiếng Latin) mà qua đó quốc gia này có thể nói chuyện với quốc gia khác; một tập hợp các giá trị đồng thuận (và cưỡng bức) do Nhà thờ quản trị; và một ’Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc’ – tức chế độ Giáo hoàng – có thể phân xử và thương lượng giữa các quốc gia tham chiến và giữa các phe phái hoàng gia.

Như Marx đã nói:

“Thật ra, mỗi giai cấp mới thay thế giai cấp thống trị trước mình, muốn thực hiện được mục đích của mình, đều nhất thiết phải biểu hiện lợi ích của bản thân mình thành lợi ích chung của mọi thành viên trong xã hội hay nói một cách trừu tượng: phải gắn cho những tư tưởng của bản thân mình một hình thức phổ biến, phải biểu hiện những tư tưởng đó thành những tư tưởng duy nhất hợp lý, duy nhất có giá trị phổ biến.”3

Theo những gì có thể đạt được dưới một trật tự mới của các vương quốc phong kiến thống nhất – chứ không phải dưới các thái ấp bị chia rẽ – là có một sự nhiệt tình lớn lao cho những sáng kiến của Edgar, Vua nước Anh, vào năm 976 ông ta đã đưa vào một loại tiền tệ đầu tiên cho một dân tộc trên thế giới. Đó không phải là một cuộc cải cách tài khóa mà là một phương thức để thu thuế dân chúng dễ dàng hơn, nhằm đảm bảo cho Edgar sống một lối sống phô trương mà ông ta đã quen, và nhằm cung cấp tài chính để phát triển bộ máy nhà nước và quân đội. Nhưng nó đã trở thành một hình mẫu cho sự trỗi dậy của các Quốc vương Kitô giáo ở khắp châu Âu.

Vào thế kỉ 10 hình thức toàn cầu hóa cỡ nhỏ này đã tăng tốc. Các Thượng Giáo hội hiện đại – Công giáo, Công giáo Anh, Chính thống giáo – thể hiện hình tượng có tính chất cổ tích về sự cải đạo của các quốc gia mới, với cá nhân các Thánh và các Tuẫn Đạo tự mình đưa những kẻ ngoại giáo đến trước cây Thánh giá. Thực tế lại có tính vật chất hơn nhiều và giống hơn nhiều những đề xuất làm ăn và những cuộc thôn tính quân sự.

Otto I ra lệnh toàn bộ người Slav phải trở thành những tín đồ Kitô. Cùng với bọn người sắt của ông ta tụ tập ở biên giới, đó là lời đề nghị mà họ không thể từ chối, trong khi đó mối đe dọa từ những người ngoại giáo Hungary kết thúc bằng chiến thắng của Otto I ở Trận Lech vào năm 995.

Cũng vậy ở đông Âu, những người ‘Rus’ mới – hay ‘những người chèo thuyền’ như người ta thường gọi người Viking sinh ra ở vùng sông nước đã chèo xuống dọc sông Dneiper và sông Volga – đã đến trước Cây thánh giá nhưng chỉ sau khi họ đã thực hiện một số cuộc thẩm tra. Những người Rus thực dụng phái những học giả uyên thâm nhất của họ sang cả Đông lẫn Tây để tìm hiểu về những tín ngưỡng mới – Hồi giáo và Kitô giáo – rồi cuối cùng thì quyết định trở về với cái sau, đánh dấu bởi lễ rửa tội chính thức cho Hoàng tử Vladimir vào năm 980.

Ở phía Tây, nước Anh dẫn dắt các cuộc thương lượng với những làn sóng người Rợ mới trên ‘Con đường đến phương Bắc’ [North Way]. Từ các căn cứ mới ở Dublin và miền bắc nước Pháp, người Viking đã bắt đầu khủng bố miền bắc nước Pháp và nước Anh. Thủ lĩnh vua cướp biển là Trygrasson, hắn đã đương đầu với Ethelred, vị vua đang hoảng sợ của nước Anh. Sự giàu có mới do một loại tiền tệ đơn nhất mang lại đã cho phép Ethelred hối lộ Trygrasson 10.000 bảng Anh dưới dạng tiền đúc bằng bạc.

Trygrasson cho rút đám côn đồ về, nhưng mọi người đều biết khi đợt thủy triều của mùa Xuân đến ông ta sẽ quay lại và đòi hỏi nhiều hơn – chính điều đó khiến Ehelred có danh hiệu mà ông sẽ còn được nhớ đến lâu hơn nữa: ‘Ethelred gã Khờ’ [Ethelred the Unraed] (chứ không phải là ‘Unready’ như bọn trẻ ở trường học đã nghĩ vậy) - ‘Unraed’ một từ Angle cổ có nghĩa là ‘nhẹ dạ, khờ dại’, triều đình của ông ta đã nghĩ rằng ông là như vậy bởi ông đã bị lừa bịp bởi mánh khóe đòi bảo kê mới của gã Trygrasson.

Chắc chắn, năm sau đó Trygrasson đã quay lại để chìa lòng bàn tay ra. Nhưng Ethelred đã có một kế hoạch ngay từ lúc đầu. Miếng bả đã hết, và giờ là lúc ông ta trói Trygrasson lại. Lần này Ethelred đưa cho hắn 16.000 bảng, nhưng với những ràng buộc – hắn không được tấn công nữa, hắn phải tham gia hội huynh đệ các Quân vương theo Kitô giáo, hắn tự phong mình làm Vua Na Uy [North Way], rồi vương quốc mới của hắn phải là vương quốc theo Kitô giáo. Háo hức một chỗ ngồi tại bàn quyền lực quốc tế, Trygrasson dễ dàng chấp thuận. Một sự ‘thay đổi chế độ’ và Kitô giáo đã đến bán đảo Scandinavia với cái giá là 26.000 bảng.

Việc ‘cải đạo’ của Iceland thậm chí còn giống một vụ làm ăn hơn nữa. Người Iceland là những người Viking tị nạn chạy trốn khỏi những chế độ áp hà khắc ở ‘North Way’, và duy trì sự tồn tại theo hình thức cộng sản nguyên thủy ở vùng đất cằn cỗi giữa lửa và băng giá. Là một phần trong trật tự mới của Trygrasson, hắn đóng cửa tất cả các bến cảng trước những người không có tín ngưỡng. Người Iceland phụ thuộc vào các bến cảng North Way để trao đổi cá lấy gỗ mà họ đang rất cần. Họ triệu tập một cuộc tụ họp lớn tại điểm tập họp truyền thống, Trigvellir, và theo đuổi các cuộc thương lượng với các Giám mục North Way, rồi đi đến một thỏa thuận. Tầt cả người người Icelander đồng ý được rửa tội và tham dự Thánh lễ vào các ngày Chủ Nhật, nhưng đổi lại Nhà thờ phải làm ngơ và cho phép họ được thực hành niềm tin ngoại giáo một cách kín đáo ở nhà riêng của họ (bởi vì không có những nghi lễ ngoại giáo ấy người Iceland rất lo lắng chúng sẽ ảnh hưởng tới việc thu hoạch cá – ‘việc Giê-su’ này cũng tốt nhưng họ còn việc làm ăn cũng phải hanh thông!). Thỏa thuận của Nhà thờ với những người ngoại giáo không có tiếng vang dù trải qua nhiều kỷ nguyên – bởi vậy chúng ta những người Bắc Âu vẫn lôi những cây thường xanh của mùa đông vào trong nhà để ăn mừng…sự ra đời của Giê-su ở Nazareth!

Đó vẫn là một thời kỳ rối ren, chế độ Giáo hoàng cân bằng giữa các vương quốc thù địch và khéo léo hậu thuẫn cho con ngựa thích hợp – chẳng hạn, mặc dù nước Anh có công giúp ‘cải đạo’ cho North Way, nhưng chính William Kẻ Chinh phạt – một người phương Bắc [‘North Man’] hay người Norman, một hậu duệ của người Viking định cư ở miền Bắc nước Pháp – mới là người mang theo Ngọn cờ Giáo hoàng tại Trận Hasting vào năm 1066, chứ không phải là Vua Harold. Chiến thắng của William đẩy nhanh quá trình thiết lập chế độ phong kiến ở Anh, như Rome đã dự tính, và nước Anh chuyển từ một vùng đất rừng trở thành một tảng đá của người Norman.

Khi chế độ phong kiến được củng cố ở Tây Âu, Rome để mắt về phía đông. Những Vương quốc thống nhất mới có thể tập hợp lại để cung cấp những đội quân quy mô lớn cho những cuộc Thập tự chinh. Nhân danh những cuộc chinh phục để bảo về vùng Đất Thánh; thực tế chúng nhằm bảo vệ và xây dựng những vùng định cư cho người Frank ở Levant, thiết kế của nó đến lượt là nhằm làm suy yếu cựu thù Byzantine. Rồi nó một lần nữa sẽ mở ra cho Rome cùng những đồng minh phương Tây một kho báu Trung Đông.

Đó bao giờ cũng là quan điểm duy vật lịch sử về những cuộc Thập tự chinh. Nhưng các nhà sử học tư sản, tất cả đều khăng khăng rằng kể từ lời kêu gọi của Giáo hoàng Urban tại Hội đồng Clermont vào năm 1095, các cuộc Thập tự chinh là một hình thức ‘Thánh chiến’ hay ‘jihad’ để bảo vệ vùng Đất Thánh khỏi sự trỗi dậy của Hồi giáo. Đó là quan điểm được khích lệ khi Chủ nghĩa đế quốc phương Tây đạt tới đỉnh cao của nó hàng trăm năm sau, như một hình thức nào đó của sự biện hộ có tính chất thần học cho chủ nghĩa thực dân – đặc biệt ở Mỹ La tinh nơi ngày nay chiếm một nửa trong số 1,2 tỷ tín đồ Kitô giáo của thế giới. Gần đây hơn, Tổng thống Bush con đã gợi lên hình ảnh của những cuộc Thập tự chinh trong cuộc chiến chống ‘trục ma quỷ’ ở phía Đông nhằm biện hộ cho thảm họa Iraq.

Nhưng chưa bao giờ là như vậy. Hồi giáo ở sơ kỳ Trung cổ cũng tạp nham như Kitô giáo sơ kỳ, với những vương quốc ‘Hồi giáo’ ở Ai Cập, Ba Tư, và nơi nay là Thổ Nhĩ Kỳ thường xuyên giao chiến với nhau, họ tìm cách thỏa thuận với một Constantiople Kitô giáo hoặc thậm chí với chính những kẻ Thập tự chinh, chứ họ không có một cuộc hành quân quyết đoán trên vùng Đất Thánh. Chỉ có một thời kỳ ngắn ngủi dưới thời Saladin mới có một cái gì đó có thể sánh ngang với một ‘cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất’ chống phương Tây.

Cuốn sách gần đây của Giáo sư sử học Peter Frankopan, Cuộc Thập tự chinh Lần thứ nhất: Tiếng gọi từ phương Đông, chỉ ra rằng các cuộc Thập tự chinh chỉ hình thành bởi vì đế chế Byzantine đang bắt đầu tan rã như Rome trước đó, với cùng những lý do như nhau. Hoàng đế Byzantine, Alexios, sợ hãi bị lật đổ không phải bởi người Hồi giáo mà bởi chính những công dân Kitô giáo của ông ta, đã kêu cứu một cách tuyệt vọng tới Giáo hoàng Urban. Rome đã nhìn thấy cơ hội của nó để đối xử với Byzantine những gì mà Byzantine đã đối xử với Rome vào thế kỷ thứ 6.

Constantinople nhanh chóng nhận ra những tham vọng của Rome khi những người Thập tự chinh từ chối trao trả lại cho Byzantine các thành phố đã được ‘giải phóng’ là Nicacea và Antioch. Thực ra, vào thời gian của cuộc Thập tự chinh Lần thứ hai và Lần thứ ba, các hoàng đến Byzantine đã không để cho những đội quân Thập tự quy mô lớn được trú ngụ bên trong những bức tường thành khổng lồ của Constantinople khi họ được cho là đang trên đường đi giải phóng vùng Đất Thánh, Byzantine không tin những ‘tín hữu Kitô’ của họ nữa. Như Giáo sư Frankopan chỉ ra, những xung đột thi thoảng của cuộc Thập tự chinh với những người Hồi giáo chỉ là một ‘màn trình diễn phụ’.

Sự ‘phát hiện’ của Giáo sư Frankopan gây ra một xúc động mạnh tại Lễ hội Văn học Cheltenham năm 2011. Thậm chí còn có một báo cáo đồng cảm mạnh mẽ với những phát hiện của ông trên tờ Times (14/10/11). Giờ đây dĩ nhiên, đó là vì lợi ích của chủ nghĩa tư bản phương Tây nhằm hạ thấp vai trò của các cuộc Thập tự chinh cùng những tuyên bố trước đây về cuộc Thánh Chiến chống Hồi giáo, khi phương Tây phát động một cuộc phản công ma thuật vào những lãnh đạo Hồi giáo ‘ôn hòa’ nhằm mưu toan xoa dịu tổ ong ở Trung Đông mà nó đã chọc vào.

Sự hình thành của những Vương quốc mới, với Rome ở vị trí dẫn đầu, một lần nữa mang lại khả năng để tạo ta những đội quân khổng lồ để có thể giết chóc và nô dịch hóa, để tạo ra những thuộc địa ở phía Đông cho mục đích bóc lột. Sự thống trị của Hồi giáo đối với vùng Đất Thánh chỉ là một cái cớ để vin vào. Xét cho cùng, Jerusalem đã rơi vào sự thống trị Hồi giáo từ 450 năm trước khi có Hội đồng Clermont. Dường như bàn tay của Chúa không chỉ ‘xoay vần một cách thần bí’ mà còn di chuyển rất chậm chạp!

Mục đích chiến lược chủ đạo của Rome cuối cùng được hiện thực hóa trong cuộc Thập tự chinh lần Thứ tư. Được dẫn dắt bởi những thành bang hùng cường mới ở Genoa và Venice – sự giàu có của chúng là dựa trên thương mại đường biển – mục đích là nhằm chấm dứt sự thống trị của Constantinople đối với hoạt động thương mại ở phía Đông Địa Trung Hải. Còn lâu mới là vì ‘sự giải phóng’ Đất Thánh khỏi Hồi giáo như ý định họ viện dẫn, thế vào đó các cuộc Thập tự chinh cướp phá Constantinople cùng với cuộc tàn sát hàng ngàn tín đồ Kitô giáo, đánh dấu hồi kết cuối cùng của đế chế Byzantine. Chủ nghĩa anh hùng ban đầu của Thánh Maurice đã bị đảo lộn.

Trong khi các nhà thờ Kitô giáo thời hiện đại có thể tìm cách thích nghi với một thế giới đang đổi thay chung quanh họ – hoặc ở hầu hết các trường hợp họ không làm gì cả – thì nó vẫn là một ý thức hệ bị khóa chặt vào chủ nghĩa thần bí và các giá trị thời trung cổ, như chứng kiến bởi tranh cãi gần đây về vấn đề Linh mục và Giám mục nữ, vấn đề hôn nhân đồng giới, vấn đề tránh thai và phá thai. Nhưng nó vẫn chi phối lòng trung thành của dân chúng ở nhiều nước, bằng chứng là năm 2011 một triệu người đã xếp hàng trên những con phố ở Rome để được Giáo hoàng John Paul II ban phúc, hoặc khủng hoảng gần đây về việc Giáo hoàng Benedict từ chức. Nhưng trong khi Nhà thờ Kitô giáo ngày nay và trong thời gian dài đã đóng một vai trò phản động, mối ràng buộc ban đầu đã đan kết Kitô giáo vào văn hóa nhân loại là thông qua ‘sự che chở’ có tính lịch sử của Nhà thờ cho những thân phận bị chà đạp ở thời kỳ chuyển tiếp từ chế độ nô lệ sang chế độ phong kiến. Nhưng còn hơn thế nữa. Dù là nô lệ thời trung cổ đối với ruộng rất hay là nô lệ thời hiện tại đối với tư bản hiện đại, do sự thiếu vắng của một giai đoạn tiếp theo cho lịch sử nhân loại và một xã hội không dựa trên lợi nhuận, những con người tuyệt vọng chỉ có Thượng đế để tìm kiếm sự cứu rỗi.

Dùng trích dẫn nổi tiếng của Karl Marx một cách đầy đủ (vì một sự thay đổi):

“Sự nghèo nàn của tôn giáo, một mặt là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, và mặt khác là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những điều kiện xã hội không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.”4

Tham khảo

Marx, Karl, và Friedrich Engels. 1980. Tuyển tập. Vol 1. Hà Nội: NXB Sự thật.

Marx, Karl, và Friedrich Engels. 1981. Tuyển tập. Vol 2. Hà Nội: NXB Sự thật.


  1. The Fall of Carthage

  2. Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, tr637-8, Marx và Engels (1981)

  3. Karl Marx, Hệ tư tưởng Đức, 1845; Marx và Engels (1981), tr.317

  4. Karl Marx, Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel, Marx và Engels (1980), tr14.